mo phong.docx

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Dương Văn Thắng (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:47' 26-02-2020
Dung lượng: 14.6 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Dương Văn Thắng (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:47' 26-02-2020
Dung lượng: 14.6 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Trong chế độ GPP chuyển đổi thì C-03 ngừng hoạt động do không có nhu cầu tách C3, C4 còn C-04 đóng vai trò như một đường ống dẫn.
Khí vào nhà máy là khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ và mỏ Rạng Đông với lưu lượng 5,9 triệu Sm3/ngày. Đầu tiên cũng được đưa vào hệ thống Slug Catcher để tách Khí, Condensate và Nước trong điều kiện áp suất 70 ÷ 80 bar và nhiệt độ từ 230C ÷ 300C tuỳ theo nhiệt độ môi trường.
Hỗn hợp lỏng ra khỏi Slug Catcher được đưa vào thiết bị tách 3 pha V-03 làm việc ở nhiệt độ 200C, áp suất 47 bar thấp hơn so với chế độ GPP thiết kế là 75 bar nhằm mục đích xử lý thêm lượng lỏng đến từ bình tách V-101 của dòng bypass.
Hỗn hợp khí ra khỏi Slug Catcher được chia làm 2 dòng:
Dòng thứ nhất khoảng 0,63 triệu m3/ngày được đưa qua van giảm áp PV-106 giảm áp suất từ 70 ÷ 80 bar xuống còn 47,5 bar và đi vào thiết bị tách lỏng V-101 để tách riêng lỏng và khí. Lỏng tại đáy bình tách V-101 được đưa vào thiết bị tách 3 pha V-03 để tách sâu hơn, còn khí ra ở đỉnh bình tách V-101 được sử dụng như khí thương phẩm cung cấp cho các nhà máy điện bằng hệ thống ống dẫn có đường kính 16".
Dòng khí thứ hai là dòng khí chính với lưu lượng khoảng 4,7 triệu Sm3/ngày được đưa vào hệ thống 4 máy nén khí K-1011A/B/C/D để nén dòng khí từ áp suất 70 ÷ 80 bar lên đến áp suất thiết kế là 109 bar với nhiệt độ 40C sau khi qua E-1015, dòng khí này được đưa vào thiết bị lọc V-08 để tách tinh lượng lỏng còn lại trong khí và bụi bẩn. Dòng khí ra khỏi V-08 được đưa vào thiết bị V-06A/B để tách loại nước trong khí với mục đích tránh tạo thành hydrat trong quá trình làm lạnh khí, sau đó được đưa qua thiết bị lọc F-01A/B để tách lọc bụi bẩn có trong khí. Phần lỏng ra khỏi thiết bị V-08 được đưa vào bình tách 3 pha V-03 để xử lý tiếp.
Dòng khí sau khi được tách nước ở V-06A/B và lọc bụi ở F-01A/B là khí khô, dòng này được chia làm 2 phần:
Phần thứ nhất khoảng 40% lượng khí khô ở trên được đưa vào thiết bị trao đổi nhiệt E-14 bằng cách thực hiện quá trình trao đổi nhiệt với dòng khí có nhiệt độ -39,5 0C đi ra từ đỉnh tháp tinh cất C-05, qua đây nhiệt độ của dòng khí sẽ giảm đến -30,20C. Sau khi thực hiện quá trình làm lạnh nhờ trao đổi nhiệt, dòng khí được đưa qua van điều khiển FV-1001 để giảm áp xuống tới 35 bar, đồng thời với quá trình giảm áp, nhiệt độ của dòng khí sẽ giảm xuống tới -59,20C. Lúc này dòng khí sẽ chứa khoảng 55% mol lỏng và được đưa tới đĩa trên cùng của thiết bị tinh cất C-05 như một dòng hồi lưu ngoài.
Phần thứ hai khoảng 60% sẽ được đưa vào thiết bị CC-01 để thực hiện việc giảm áp suất từ 109 bar xuốg tới 35,08 bar và nhiệt độ giảm xuống -11,70C. Dòng khí lạnh này sau đó được đưa vào đáy của tháp tinh cất C-05.
Như vậy khí khô sau khi ra khỏi thiết bị lọc F-01A/B được phân tách ra thành hai dòng đưa sang các thiết bị E-14 và CC-01 để giảm nhiệt độ sau đó mới đưa vào tháp tinh cất C-05 hoạt động ở áp suất 35 bar, nhiệt độ của đỉnh tháp và đáy tháp tương ứng là -39,50C và -140C. Tại đây, khí chủ yếu là C1 và C2 được tách ra ở đỉnh tháp. Thành phần pha lỏng chủ yếu là Propane và các cấu tử nặng hơn sẽ được tách ra từ đáy tháp.
Hỗn hợp khí đi ra từ đỉnh tháp tinh cất C-05 có thành phần chủ yếu là Methane và Ethane, có nhiệt độ -39.50C được sử dụng làm tác nhân lạnh cho thiết bị trao đổi nhiệt E-14 và sau đó được nén tới áp suất 47 bar trong phần nén của thiết bị CC-01. Hỗn hợp khí đi ra từ thiết bị này được đưa vào hệ thống đường ống 16" đến các nhà máy điện như là khí thương phẩm.
Hỗn hợp lỏng đi ra từ đáy tháp tinh cất C-05 có thành phần là C3+, chủ yếu là Propane được đưa vào đỉnh tháp C-01 như dòng hồi lưu ngoài.
Tháp Deethanize C-01 là một tháp đĩa dạng van hoạt động như một thiết bị chưng cất. Trong chế độ GPP chuyển đổi tháp C-01 có
Khí vào nhà máy là khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ và mỏ Rạng Đông với lưu lượng 5,9 triệu Sm3/ngày. Đầu tiên cũng được đưa vào hệ thống Slug Catcher để tách Khí, Condensate và Nước trong điều kiện áp suất 70 ÷ 80 bar và nhiệt độ từ 230C ÷ 300C tuỳ theo nhiệt độ môi trường.
Hỗn hợp lỏng ra khỏi Slug Catcher được đưa vào thiết bị tách 3 pha V-03 làm việc ở nhiệt độ 200C, áp suất 47 bar thấp hơn so với chế độ GPP thiết kế là 75 bar nhằm mục đích xử lý thêm lượng lỏng đến từ bình tách V-101 của dòng bypass.
Hỗn hợp khí ra khỏi Slug Catcher được chia làm 2 dòng:
Dòng thứ nhất khoảng 0,63 triệu m3/ngày được đưa qua van giảm áp PV-106 giảm áp suất từ 70 ÷ 80 bar xuống còn 47,5 bar và đi vào thiết bị tách lỏng V-101 để tách riêng lỏng và khí. Lỏng tại đáy bình tách V-101 được đưa vào thiết bị tách 3 pha V-03 để tách sâu hơn, còn khí ra ở đỉnh bình tách V-101 được sử dụng như khí thương phẩm cung cấp cho các nhà máy điện bằng hệ thống ống dẫn có đường kính 16".
Dòng khí thứ hai là dòng khí chính với lưu lượng khoảng 4,7 triệu Sm3/ngày được đưa vào hệ thống 4 máy nén khí K-1011A/B/C/D để nén dòng khí từ áp suất 70 ÷ 80 bar lên đến áp suất thiết kế là 109 bar với nhiệt độ 40C sau khi qua E-1015, dòng khí này được đưa vào thiết bị lọc V-08 để tách tinh lượng lỏng còn lại trong khí và bụi bẩn. Dòng khí ra khỏi V-08 được đưa vào thiết bị V-06A/B để tách loại nước trong khí với mục đích tránh tạo thành hydrat trong quá trình làm lạnh khí, sau đó được đưa qua thiết bị lọc F-01A/B để tách lọc bụi bẩn có trong khí. Phần lỏng ra khỏi thiết bị V-08 được đưa vào bình tách 3 pha V-03 để xử lý tiếp.
Dòng khí sau khi được tách nước ở V-06A/B và lọc bụi ở F-01A/B là khí khô, dòng này được chia làm 2 phần:
Phần thứ nhất khoảng 40% lượng khí khô ở trên được đưa vào thiết bị trao đổi nhiệt E-14 bằng cách thực hiện quá trình trao đổi nhiệt với dòng khí có nhiệt độ -39,5 0C đi ra từ đỉnh tháp tinh cất C-05, qua đây nhiệt độ của dòng khí sẽ giảm đến -30,20C. Sau khi thực hiện quá trình làm lạnh nhờ trao đổi nhiệt, dòng khí được đưa qua van điều khiển FV-1001 để giảm áp xuống tới 35 bar, đồng thời với quá trình giảm áp, nhiệt độ của dòng khí sẽ giảm xuống tới -59,20C. Lúc này dòng khí sẽ chứa khoảng 55% mol lỏng và được đưa tới đĩa trên cùng của thiết bị tinh cất C-05 như một dòng hồi lưu ngoài.
Phần thứ hai khoảng 60% sẽ được đưa vào thiết bị CC-01 để thực hiện việc giảm áp suất từ 109 bar xuốg tới 35,08 bar và nhiệt độ giảm xuống -11,70C. Dòng khí lạnh này sau đó được đưa vào đáy của tháp tinh cất C-05.
Như vậy khí khô sau khi ra khỏi thiết bị lọc F-01A/B được phân tách ra thành hai dòng đưa sang các thiết bị E-14 và CC-01 để giảm nhiệt độ sau đó mới đưa vào tháp tinh cất C-05 hoạt động ở áp suất 35 bar, nhiệt độ của đỉnh tháp và đáy tháp tương ứng là -39,50C và -140C. Tại đây, khí chủ yếu là C1 và C2 được tách ra ở đỉnh tháp. Thành phần pha lỏng chủ yếu là Propane và các cấu tử nặng hơn sẽ được tách ra từ đáy tháp.
Hỗn hợp khí đi ra từ đỉnh tháp tinh cất C-05 có thành phần chủ yếu là Methane và Ethane, có nhiệt độ -39.50C được sử dụng làm tác nhân lạnh cho thiết bị trao đổi nhiệt E-14 và sau đó được nén tới áp suất 47 bar trong phần nén của thiết bị CC-01. Hỗn hợp khí đi ra từ thiết bị này được đưa vào hệ thống đường ống 16" đến các nhà máy điện như là khí thương phẩm.
Hỗn hợp lỏng đi ra từ đáy tháp tinh cất C-05 có thành phần là C3+, chủ yếu là Propane được đưa vào đỉnh tháp C-01 như dòng hồi lưu ngoài.
Tháp Deethanize C-01 là một tháp đĩa dạng van hoạt động như một thiết bị chưng cất. Trong chế độ GPP chuyển đổi tháp C-01 có
 




















