Đường lối cúa Đảng Cộng sản VN.docx

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Hoa (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:42' 05-07-2020
Dung lượng: 63.2 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Hoa (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:42' 05-07-2020
Dung lượng: 63.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Kháng chiến chống Pháp (1946-1954)
Chiến tranh là thử thách lớn đối với mỗi quốc gia dân tộc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Thử thách đó càng lớn hơn nhiều với nước ta vào cuối nǎm 1946. Nền độc lập mới gình lại được 16 tháng, chính quyền chưa được củng cố vững mạnh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, nên các mặt đời sống xã hội chưa thật sự ổn đinh, mà dân tộc ta đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh trên quy mô toàn quốc. Sớm ý thức được "sự mâu thuẫn giữa Anh - Mỹ - Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh - Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương", Đảng và Nhà nước ta đã tích cực, chủ động chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đối phó với hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đồng thời làm hết sức mình để cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp không mở rộng ra cả nước. Nhân dân ta muốn hoà bình, ta đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp càng lấn tới, buộc nhân dân ta phải cầm súng để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám 1945. Vào lúc 20 giờ ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ.
I- ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CHI PHỐI TIẾN TRÌNH CUỘC KHÁNG CHIẾN
Kháng chiến toàn quốc xảy ra trong điều kiện so sánh tương quan lực lượng không có lợi cho ta. Đối tượng tác chiến của ta là đội quân nhà nghề của thực dân Pháp, có trang bị tối tân, có trình độ tác chiến và chỉ huy cao - một quân đội có kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược, đã thống trị nước ta gần một thế kỷ, đội quân của một nước tư bản phát triển, có tiềm lực kinh tế, khoa học và kỹ thuật khá hiện đại. Đến cuối nǎm 1946, đội quân này gồm 10 vạn tên đã có mặt trên đất nước ta. Hành động đánh chiếm Việt Nam và Đông Dương của thực dân Pháp nằm trong âm mưu và chiến lược phản kích toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Pháp chiếm đóng Đông Dương nhằm ngǎn chặn làn sóng cách mạng và chủ nghĩa xã hội ở vùng Đông Nam châu á. Chính vì vậy Anh, Mỹ tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp trở lại xâm lược Đông Dương và điểm mấu chốt là Việt Nam. ở nước Pháp, giai cấp tư sản và lực lượng phản động được Mỹ giúp đỡ đang tích cực hoạt động tranh giành quyền lực trên vũ đài chính trị. Trong lúc đó, lãnh tụ của Đảng xã hội Pháp từ chối hợp tác với Đảng cộng sản Pháp để giải quyết các vấn đề chính trị, xã hội. Điều đó tạo cơ hội thuận lợi cho lực lượng thân Mỹ và phái chủ chiến trong Chính phủ Pháp trong việc đánh chiếm lại Đông Dương và Việt Nam bằng vũ lực. Vấn đề Đông Dương được Quốc hội Pháp thảo luận sôi nổi, đã hình thành những quan điểm và mâu thuẫn giữa phái chủ chiến và phái chủ hoà, giữa những người cộng hoà và bọn phản động thân Mỹ. Trên đây là những điểm mạnh của phía Pháp trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng chúng cũng bộc lộ những điểm yếu không thể khắc phục được. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế nước Pháp sa sút, quân đội thiếu hụt quân số. Trong điều kiện đó, Pháp vừa phải củng cố xây dựng đất nước, vừa phải duy trì sự thống trị và đối phó với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong khối liên hiệp Pháp. Nếu chiến tranh Việt - Pháp kéo dài thì nước Pháp sẽ khó khǎn hơn. Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển, kinh tế Việt Nam bị kìm hãm và bóc lột trong những nǎm thực dân Pháp thống trị, lại kiệt quệ hơn bởi phátxít Nhật vơ vét tài nguyên phục vụ chiến tranh xâm lược của chúng. Biểu hiện rõ nhất là trên 2 triệu người chết đói trong nǎm 1945. Sau khi giành được độc lập bằng Cách mạng tháng Tám nǎm 1945, Nhà nước và nhân dân ta ra sức chống đói, tích cực sản xuất để ổn định đời sống nhân dân. Nhưng trong thời gian ngắn, sự nỗ lực chưa được bao nhiêu thì chiến tranh Việt- Pháp đã xảy ra. Đến tháng 12-1946, lực lượng vũ trang của ta đã phát triển trên 8 vạn người, nhưng trang bị còn quá thô sơ, phần lớn là giáo mác, súng trường, súng kíp. Quân số phát triển nhanh, nhưng chưa được huấn luyện kỹ, cán bộ chưa được đào tạo, huấn luyện nhiều. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đánh giá quân đội ta lúc đó là: quân đội ấu thơ, thừa về lòng dũng cảm, nhưng thiếu về trang bị vũ khí, kém về tổ chức chỉ huy. Chủ nghĩa đế quốc bao vây ta bốn phía. Chúng tìm mọi cách bưng bít và xuyên tạc tính chất của
Chiến tranh là thử thách lớn đối với mỗi quốc gia dân tộc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Thử thách đó càng lớn hơn nhiều với nước ta vào cuối nǎm 1946. Nền độc lập mới gình lại được 16 tháng, chính quyền chưa được củng cố vững mạnh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, nên các mặt đời sống xã hội chưa thật sự ổn đinh, mà dân tộc ta đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh trên quy mô toàn quốc. Sớm ý thức được "sự mâu thuẫn giữa Anh - Mỹ - Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh - Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương", Đảng và Nhà nước ta đã tích cực, chủ động chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đối phó với hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, đồng thời làm hết sức mình để cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp không mở rộng ra cả nước. Nhân dân ta muốn hoà bình, ta đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp càng lấn tới, buộc nhân dân ta phải cầm súng để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám 1945. Vào lúc 20 giờ ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ.
I- ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CHI PHỐI TIẾN TRÌNH CUỘC KHÁNG CHIẾN
Kháng chiến toàn quốc xảy ra trong điều kiện so sánh tương quan lực lượng không có lợi cho ta. Đối tượng tác chiến của ta là đội quân nhà nghề của thực dân Pháp, có trang bị tối tân, có trình độ tác chiến và chỉ huy cao - một quân đội có kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược, đã thống trị nước ta gần một thế kỷ, đội quân của một nước tư bản phát triển, có tiềm lực kinh tế, khoa học và kỹ thuật khá hiện đại. Đến cuối nǎm 1946, đội quân này gồm 10 vạn tên đã có mặt trên đất nước ta. Hành động đánh chiếm Việt Nam và Đông Dương của thực dân Pháp nằm trong âm mưu và chiến lược phản kích toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Pháp chiếm đóng Đông Dương nhằm ngǎn chặn làn sóng cách mạng và chủ nghĩa xã hội ở vùng Đông Nam châu á. Chính vì vậy Anh, Mỹ tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp trở lại xâm lược Đông Dương và điểm mấu chốt là Việt Nam. ở nước Pháp, giai cấp tư sản và lực lượng phản động được Mỹ giúp đỡ đang tích cực hoạt động tranh giành quyền lực trên vũ đài chính trị. Trong lúc đó, lãnh tụ của Đảng xã hội Pháp từ chối hợp tác với Đảng cộng sản Pháp để giải quyết các vấn đề chính trị, xã hội. Điều đó tạo cơ hội thuận lợi cho lực lượng thân Mỹ và phái chủ chiến trong Chính phủ Pháp trong việc đánh chiếm lại Đông Dương và Việt Nam bằng vũ lực. Vấn đề Đông Dương được Quốc hội Pháp thảo luận sôi nổi, đã hình thành những quan điểm và mâu thuẫn giữa phái chủ chiến và phái chủ hoà, giữa những người cộng hoà và bọn phản động thân Mỹ. Trên đây là những điểm mạnh của phía Pháp trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng chúng cũng bộc lộ những điểm yếu không thể khắc phục được. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế nước Pháp sa sút, quân đội thiếu hụt quân số. Trong điều kiện đó, Pháp vừa phải củng cố xây dựng đất nước, vừa phải duy trì sự thống trị và đối phó với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong khối liên hiệp Pháp. Nếu chiến tranh Việt - Pháp kéo dài thì nước Pháp sẽ khó khǎn hơn. Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển, kinh tế Việt Nam bị kìm hãm và bóc lột trong những nǎm thực dân Pháp thống trị, lại kiệt quệ hơn bởi phátxít Nhật vơ vét tài nguyên phục vụ chiến tranh xâm lược của chúng. Biểu hiện rõ nhất là trên 2 triệu người chết đói trong nǎm 1945. Sau khi giành được độc lập bằng Cách mạng tháng Tám nǎm 1945, Nhà nước và nhân dân ta ra sức chống đói, tích cực sản xuất để ổn định đời sống nhân dân. Nhưng trong thời gian ngắn, sự nỗ lực chưa được bao nhiêu thì chiến tranh Việt- Pháp đã xảy ra. Đến tháng 12-1946, lực lượng vũ trang của ta đã phát triển trên 8 vạn người, nhưng trang bị còn quá thô sơ, phần lớn là giáo mác, súng trường, súng kíp. Quân số phát triển nhanh, nhưng chưa được huấn luyện kỹ, cán bộ chưa được đào tạo, huấn luyện nhiều. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đánh giá quân đội ta lúc đó là: quân đội ấu thơ, thừa về lòng dũng cảm, nhưng thiếu về trang bị vũ khí, kém về tổ chức chỉ huy. Chủ nghĩa đế quốc bao vây ta bốn phía. Chúng tìm mọi cách bưng bít và xuyên tạc tính chất của
 




















